Đường dây nóng: (022).3851.105
Không có video - Upload lại link

SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CƠ QUAN

Năm 1952, Chính phủ ban hành Quyết định thành lập khu Tây Bắc gồm 4 tỉnh Sơn La, Lai Châu, Yên Bái, Lào Cai, Sở Tư pháp khu cũng được thành lập, gồm 2 bộ phận chính là Toà án khu, các Toà án tỉnh, một số Toà án huyện và bộ phận làm công tác hành chính Tư pháp. Nhiệm vụ chủ yếu là xét xử các vụ án gián điệp, biệt kích, bạo loạn hoạt động phỉ.

Năm 1955, Khu Tây Bắc được đổi tên là Khu tự trị Thái Mèo gồm 18 Châu của Sơn La và Lai Châu, nhiệm vụ của Ngành Tư pháp tập trung ở Toà án Khu và Toà án 18 Châu. Trong thời gian này, nhiều vụ án phản Cách mạng được đưa ra xét xử kịp thời, nghiêm minh góp phần ổn định an ninh chính trị, bảo vệ chính quyền Cách mạng. Năm 1959, do yêu cầu của nhiệm vụ Cách mạng, Khu tự trị Thái Mèo đổi lại tên thành Khu tự trị Tây Bắc và hình thành 03 tỉnh Sơn La, Lai Châu, Nghĩa Lộ, giai đoạn này công tác hành chính tư pháp do Toà án đảm nhiệm. Đến năm 1976, để phù hợp với tình hình trong giai đoạn Cách mạng mới, Quốc hội và Chính phủ đã ra Quyết định giải thể "Khu tự trị Tây Bắc", nhiệm vụ của Khu được giao về cho các tỉnh trong đó có công tác Tư pháp.

Năm 1978, Ban pháp chế của tỉnh được thành lập với nhiệm vụ chủ yếu là quản lý, tham gia xây dựng, rà soát văn bản pháp quy, tuyên truyền pháp luật. Biên chế của Ban pháp chế chỉ có 02 đồng chí, một Phó ban Thường trực, một cán bộ nghiệp vụ.

Thực hiện Nghị định số 143/CP ngày 22/11/1981 của Hội đồng Bộ trưởng và Thông tư số 08/TT ngày 06/1/1982 của Bộ Tư pháp, ngày 17/02/1982 UBND tỉnh Quyết định thành lập Sở Tư pháp tỉnh Sơn La và hệ thống Tư pháp, Pháp chế trong toàn tỉnh. Sở Tư pháp được thành lập từ tiền thân là Phòng pháp chế thuộc UBND tỉnh, mở đầu cho quá trình xây dựng, trưởng thành và phát triển.

Trong những ngày đầu mới thành lập, Sở Tư pháp gặp nhiều khó khăn về cơ sở vật chất và biên chế. Sở Tư pháp đã tiếp nhận các nhiệm vụ của Ban pháp chế tỉnh và một phần tổ chức, nhiệm vụ của Toà án nhân dân tỉnh. Cơ cấu tổ chức bao gồm Ban Giám đốc và 03 phòng nghiệp vụ với tổng số 09 biên chế. Đồng thời Ban Tư pháp các huyện, thị xã (Nay là thành phố) và Ban pháp chế ở các ngành trọng điểm cũng được thành lập. Giám đốc Sở Tư pháp thời kỳ này là đồng chí Lò Thanh Mai.

Tháng 6/1985, UBND tỉnh ra Quyết định số 362/QĐ-UB sắp xếp lại tổ chức bộ máy của Sở. Theo đó, Sở Tư pháp có 3 phòng: Phòng tổ chức - Hành chính, Phòng pháp chế và Phòng tuyên huấn Pháp lý.

Tháng 4/1988, UBND tỉnh ra Quyết định số 58/QĐ-UB chuyển Sở Tư pháp thành Phòng Tư pháp thuộc UBND tỉnh. Lãnh đạo Phòng gồm 01 Trưởng phòng, 01 Phó phòng và 4 tổ công tác với 15 biên chế. Trước yêu cầu và nhiệm vụ mới, việc tổ chức Phòng Tư pháp tỉnh là không phù hợp, do đó tháng 12/1990, UBND tỉnh ra Quyết định số 402/QĐ-UB thành lập lại Sở Tư pháp, bộ phận Tư pháp ở cấp huyện, Tư pháp xã và tổ chức pháp chế của các sở, ngành. Sở Tư pháp được thành lập lại nhưng không có các phòng chuyên môn; cán bộ, chuyên viên làm việc trực tiếp với Ban Giám đốc, chỉ thành lập các tổ để sinh hoạt và quản lý hành chính.

Năm 1993, tổ chức và hoạt động của Sở Tư pháp được đổi mới, nhất là từ năm 2002 đến nay, thực hiện Chương trình Cải cách Tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ công tác Tư pháp trong thời gian tới và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ chính trị về Chiến lược Cải cách Tư pháp đến năm 2020, các cơ quan Tư pháp ở địa phương tiếp tục được củng cố, kiện toàn về tổ chức bộ máy và biên chế. Sở Tư pháp có 05 phòng chuyên môn và 05 đơn vị trực thuộc; được quan tâm đầu tư, trang bị cơ sở vật chất nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của công tác Tư pháp trong tình hình mới phù hợp với tiến trình cải cách Hành chính và cải cách Tư pháp; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Từ năm 2009, thực hiện Thông tư Liên tịch số 01/2009/TTLT-BTP-BNV ngày 28/4/2009 của Liên tịch Bộ Nội vụ - Bộ Tư pháp hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Tư pháp thuộc UBND cấp tỉnh, Phòng Tư pháp thuộc UBND cấp huyện và công tác Tư pháp của UBND cấp xã; một số văn bản pháp luật có liên quan chức năng, nhiệm vụ của Ngành Tư pháp được cụ thể hoá và tăng lên. Tổ chức bộ máy Sở Tư pháp tiếp tục được kiện toàn có các phòng tham mưu, tổng hợp và chuyên môn, nghiệp vụ đó là: Văn phòng; Thanh tra; Phòng Xây dựng và Thi hành văn bản QPPL; Kiểm tra, rà soát văn bản QPPL; Phổ biến, giáo dục pháp luật; Hành chính tư pháp; Bổ trợ tư pháp; Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước; Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản và 03 phòng Công chứng số 1, 2, 3.

Từ tháng 5/2015, thực hiện Thông tư Liên tịch số 23/2014/TTLT-BTP-BNV ngày 22/12/2014 của Bộ Tư pháp, Bộ Nội vụ về hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Tư pháp thuộc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Phòng Tư pháp thuộc UBND huyện, thành phố, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; một số văn bản pháp luật có liên quan. Hiện nay, Sở Tư pháp có chức năng, nhiệm vụ tham mưu với UBND tỉnh quản lý Nhà nước về: Công tác xây dựng, kiểm tra, xử lý văn bản QPPL; quản lý công tác thi hành pháp luật đề xử lý vi phạm hành chính; theo dõi thi hành pháp luật; kiểm soát thủ tục hành chính; pháp chế; phổ biến giáo dục pháp luật; hòa giải ở cơ sở; chuẩn tiếp cận pháp luật; hộ tịch; quốc tịch; chứng thực; nuôi con nuôi; lý lịch Tư pháp; bồi thường Nhà nước; trợ giúp pháp lý; luật sư; tư vấn pháp luật; công chứng; giám định tư pháp; đấu giá tài sản; trọng tài thương mại; công tác tư pháp khác theo quy định của pháp luật; thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn trong lĩnh vực công tác Tư pháp theo sự uỷ quyền của UBND tỉnh.

Theo đó, tổ chức bộ máy Sở Tư pháp tiếp tục được kiện toàn có 02 phòng tham mưu, tổng hợp (Văn phòng, Thanh tra); 06 phòng chuyên môn (Phòng Xây dựng và kiểm tra văn bản QPPL; phòng Quản lý xử lý vi phạm hành chính và theo dõi thi hành pháp luật; phòng Kiểm soát thủ tục hành chính; phòng Phổ biến giáo dục pháp luật; phòng Hành chính tư pháp; phòng Bổ trợ tư pháp); 05 đơn vị sự nghiệp thuộc Sở (Trung tâm Trợ giúp pháp lý; Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản; 03 phòng công chứng số 1, 2, 3)./.

 
Chính phủ điện tử
Online:1
Hôm nay:2
Hôm qua:20
Tổng số: 21969